Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở từ thực tiễn thi hành trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn

Chủ nhiệm Trương Thị Vân Anh - Trưởng phòng Tư pháp - UBND huyện Nghĩa Đàn Thành viên Trương Thị Vân Anh
Số N/A Năm 2020
Cấp độ Cấp cơ sở Lĩnh vực Khoa học, Công nghệ
Hòa giải ở cơ sở là nét đẹp truyền thống đạo lý của dân tộc Việt Nam, là hoạt động mang tính tự nguyện, tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Hoạt động hòa giải ở cơ sở về bản chất là hướng dẫn, giúp đỡ thông qua việc thuyết phục, vận động các bên đi đến thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật dựa trên nguyên tắc tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng. Vì vậy hòa giải ở cơ sở đã khẳng định vai trò to lớn, ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho Nhà nước và Nhân dân, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. 
Trong thời gian qua, công tác hòa giải cơ sở tại huyện Nghĩa Đàn đã đạt được một số kết quả tích cực, góp phần làm ổn định tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, kết quả đạt được trong công tác hòa giải cơ sở vẫn còn hạn chế, số lượng vụ việc mẫu thuẫn được thụ lý để hòa giải còn ít, kỹ năng của hòa giải viên cơ sở chưa được nâng cao để đáp ứng với yêu cầu trong tình hình mới. Để nâng cao chất lượng công tác hòa giải cơ sở trên địa bàn huyện, tôi thực hiện đề tài Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở từ thực tiễn thi hành trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn”.

PHẦN NỘI DUNG

          1, Đặc điểm cơ bản và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong công tác hòa giải cơ sở:
1.1.Đặc điểm cơ bản của công tác hòa giải cơ sở:
Đặc trưng cơ bản của Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra theo từng tổ bản, cụm dân cư. Tổ hoà giải thực hiện “hướng dẫn, thuyết phục, dàn xếp, giúp đỡ”, “dùng tình cảm để giải quyết mâu thuẫn” chứ không phải bằng phán xét, bằng quyết định, bằng quyền lực của các cơ quan nhà nước, không do cơ quan nhà nước thực hiện nên các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật trong cộng đồng dân cư khi hòa giải thành được các bên tự nguyện chấp hành, có giá trị thi hành cao. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác hoà giải, đã có những biện pháp phù hợp nhằm duy trì, củng cố và phát triển công tác hoà giải, tạo cơ sở pháp lý cho công tác này không ngừng phát triển và phát huy tác dụng tích cực đối với đời sống thông qua việc quy định trong nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Hôn nhân gia đình... chính sách khuyến khích các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng hình thức hòa giải ở cơ sở và các hình thức hòa giải thích hợp khác. 
1.2. Hệ thống văn bản trong công tác hòa giải cơ sở:
Về hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh đối với công tác hòa giải ở cơ sở, ngày 25/12/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức và triển khai hoạt động hòa giải ở cơ sở. Tuy nhiên, vai trò của công tác hòa giải là rất lớn và cần phải được điều chỉnh bởi một đạo luật có hiệu lực pháp lý cao hơn. Vì vậy, ngày 20/6/2013, Quốc hội đã ban hành Luật Hòa giải ở cơ sở thay thế cho Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998. Để triển khai thi hành Luật, ngày 27/02/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số biện pháp triển khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở; ngày 18/11/2014, Chính phủ và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cũng ban hành Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTWMTTQVN hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Để nâng cao kiến thức pháp luật và hiệu quả hoạt động cho các hòa giải viên, Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Quyết định số 4077/QĐ-BTP ngày 31/12/2014 về Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên và Quyết định số 4080/QĐ-BTP ngày 31/12/2014 ban hành Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở.
2. Thực trạng công tác hòa giải cơ sở:
Tại huyện Nghĩa Đàn, để triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, từ năm 2013 đến nay hằng năm UBND huyện đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch khai thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở 2013. Qua 15 năm thực hiện Pháp lệnh số 09/1998/PL-UBTVQH10 về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, 6 năm thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở và các văn bản pháp luật liên quan, việc triển khai thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở trên đại bàn huyện Nghĩa Đàn đã đạt được những kết quả nhất định; hòa giải ở cơ sở không ngừng được củng cố về tổ chức, đội ngũ, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Hiện nay toàn huyện có 213 tổ hoà giải tại 25 xã, thị trấn với trên 1.700 hòa giải viên; trong giai đoạn 2010-2014, tổng số vụ việc nhận hòa giải là 227 vụ việc trong đó, hòa giải thành là 196 vụ, đạt tỷ lệ 86%. Kết quả thực hiện công tác hòa giải đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định, trật tự, an toàn xã hội địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì việc triển khai thi hành hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần được khắc phục như: Một số nơi việc kiện toàn tổ chức và hoạt động của các Tổ hòa giải tiến hành còn chậm; hoạt động hoà giải chưa đồng đều, một số nơi còn mang tính hình thức; năng lực hòa giải viên một số nơi nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến kết quả hòa giải thành ở một số xã, thị trấn; một số vụ việc quá trình hoà giải chưa giải quyết triệt để mâu thuẫn dẫn đến tình trạng mâu thuẫn kéo dài và phải chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng hoặc thủ tục hành chính; sự phối hợp giữa cơ quan Tư pháp các cấp và Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp trong xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức các Tổ hòa giải ở cơ sở, trong theo dõi hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở, trong động viên các tầng lớp Nhân dân tích cực tham gia xây dựng củng cố tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở cũng như gắn hoạt động hòa giải ở cơ sở với việc xây dựng và thực hiện các phong trào quần chúng ở địa phương chưa thường xuyên; kinh phí đảm bảo cho công tác hòa giải còn hạn chế nên việc chi cho các hoạt động hòa giải của các địa phương theo mức chi theo quy định hầu như chưa thực hiện được.
Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế trên chủ yếu là do việc huy động nguồn lực cho công tác hòa giải ở cơ sở chưa được tiến hành một cách đồng bộ và thống nhất; đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải phải kiêm nhiệm nhiều việc; việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ hòa giải ở một số địa phương chưa được thực hiện thường xuyên; chính sách hỗ trợ về kinh phí cho hoạt động của Tổ hòa giải và hòa giải viên còn hạn chế; trách nhiệm của UBND cấp xã trong việc thực hiện quản lý nhà nước cũng như  trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành liên quan trong hoạt động hòa giải ở cơ sở chưa được xác định rõ ràng.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hòa giải cơ sở:
Từ thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác hòa giải cơ sở, tôi xin đề xuất những giải pháp cơ bản sau để nâng cao chất lượng công tác hòa giải cơ sở trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, cụ thể:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên các cấp đối với công tác hòa giải ở cơ sở. Là một tổ chức quần chúng trong cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, Tổ hoà giải không thể đứng ngoài sự lãnh đạo của Đảng, không thể thiếu vai trò quản lý của Nhà nước và sự tham gia của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể xã hội trong hoạt động hoà giải. Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên thường xuyên phối hợp chặt chẽ và phối hợp thực hiện tốt những quy định của pháp luật về hòa giải nhằm tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Nhân dân với Nhân dân, giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Thứ hai, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước để không ngừng nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp Nhân dân đối với vị trí, vai trò của công tác hòa giải ở cơ sở.
Thứ ba, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan Tư pháp trong công tác hòa giải ở cơ sở, nhất là trong việc phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên cùng cấp của Mặt trận để thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở.
Thứ tư, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về công tác hòa giải ở cơ sở phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo khả thi.
Thứ năm, Xây dựng và ban hành các chương trình, đề án riêng về công tác hòa giải cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của công tác hòa giải tại địa bàn huyện, trong đó xác định nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, cơ quan, tổ chức.
Thứ sáu, tiếp tục củng cố, kiện toàn nâng cao chất lượng tổ hòa giải và hòa giải viên thông qua việc rà soát số lượng, chất lượng đội ngũ hòa giải viên; chuẩn hóa các tiêu chuẩn, điều kiện để được công nhận là hòa giải viên; bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải; tạo điều kiện cho hòa giải viên giao lưu, học hỏi kỹ năng hòa giải thông qua các hoạt động như thi hòa giải viên giỏi cơ sở, tổ chức các hoạt động học hỏi kinh nghiệm.
Thứ bảy, trang bị cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho cơ quan quản lý nhà nước và hòa giải viên. Tạo điều kiện cho các hòa giải viên trong việc tiếp cận thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Đặc biệt, UBND  cấp huyện, cấp xã quan tâm bảo đảm kinh phí hoạt động cho công tác hòa giải ở cơ sở; giải quyết kịp thời, đầy đủ các chính sách, chế độ cho hoà giải viên và kinh phí cho hoạt động hoà giải để động viên những người làm công tác hòa giải, qua đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.
Thứ tám, kết hợp chặt chẽ công tác hòa giải ở cơ sở với hoàn thiện quy chế dân chủ ở cơ sở; cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; phong trào xây dựng nông thôn mới và thực hiện chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở. Thực hiện tốt giải pháp này là cơ sở quan trọng để góp phần đảm bảo tình hình an ninh trật tự ở địa phương, hạn chế các vụ việc tiêu cực và các xích mích trong cộng đồng dân cư.
Thứ chín, thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo; công tác thanh tra, kiểm tra; sơ kết, tổng kết và khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở. Qua đó giúp ngành Tư pháp chủ động nắm bắt được thông tin về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở một cách sát thực để đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động sát thực, biết được cách làm hay, những nơi hoạt động có hiệu quả để nhân rộng mô hình trên địa bàn huyện. Hàng năm, thực hiện tốt việc sơ kết, tổng kết công tác hoà giải ở cơ sở để kịp thời biểu dương khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích trong hoạt động hoà giải ở cơ sở.

PHẦN KẾT LUẬN
Có thể nói rằng, việc nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc về những mặt tích cực, những tồn tại, hạn chế, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở, nâng cao vai trò của hòa giải ở cơ sở trong đời sống xã hội là hết sức cần thiết và là một nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất trong công tác quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn. Mong  rằng, với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở từ thực tiễn thi hành trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn”, sẽ góp phần đề xuất các giải pháp hiệu quả về công tác hòa giải để Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện vận dụng vào quá trình triển khai các nhiệm vụ về quản lý nhà nước và tổ chức triển khai công tác hòa giải ở cơ sở phù hợp nhằm phát huy tình đoàn kết, tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của từng cá nhân và của cả cộng đồng, qua đó nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở từ thực tiễn thi hành tại huyện Nghĩa Đàn.
 
Thủ tục Hành chính cấp huyện
Thông tin tiếp công dân
ISO
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập11
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm9
  • Hôm nay2,106
  • Tháng hiện tại26,590
  • Tổng lượt truy cập6,444,898
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây