Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến và vận động đồng bào vùng Dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn

Chủ nhiệm Lê Thị Ly - Phó Trưởng phòng Dân tộc - UBND huyện Nghĩa Đàn Thành viên Lê Thị Ly
Số 50-2020 Năm 2020
Cấp độ Cấp cơ sở Lĩnh vực Tuyên giáo
2. Mục tiêu của sáng kiến:
2.1. Mục tiêu chung:
Tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện. Đồng thời, thông qua truyên tuyền đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc có điều kiện tiếp cận, tìm hiểu về tâm tư, nguyện vọng, đời sống, sinh hoạt, đặc trưng nếp sống văn hóa truyền thống, tiếng nói,...của các dân tộc thiểu số để tham mưu UBND huyện trong việc quản lý Nhà nước về công tác dân tộc đảm bảo tính pháp lý, khoa học, có cơ sở hoạch định để phát triển nhanh, bền vững về kinh tế - xã hội trong vùng dân tộc một cách thiết thực.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Thông tin, tuyên truyền nhằm nhắc nhở đến cán bộ và đồng bào dân tộc hiểu rõ về các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và của địa phương.
- Sau khi tiếp nhận được thông tin để đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp cận, nắm bắt, tìm hiểu mà đồng thuận, tham gia ủng hộ và thực hiện các chương trình, chính sách một cách có hiệu quả. Đồng thời, cũng nhằm đảm bảo được tính minh bạch, rõ ràng, công khai dân chủ theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
- Sáng kiến về nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến và vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhằm mục đích đem lại tính khả thi cho từng chương trình, chính sách đầu tư vào vùng dân tộc phù hợp với thực tế, hiệu quả cao, đồng bào dân tộc trực tiếp được hưởng thụ các chính sách, vùng nông thôn miền núi từng bước khởi sắc, đồng bào các dân tộc thiểu số phấn khởi, an tâm trong học tập, lao động, sản xuất, phát triển kinh tế để vươn lên thoát nghèo bền vững, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
 3. Đối tượng nghiên cứu:
- Cộng đồng dân cư, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
- Cán bộ thôn, bản; người có uy tín trong đồng bào DTTS trên địa bàn huyên Nghĩa Đàn.
B. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lý luận:
- Công tác dân tộc được xác định có vị trí trọng yếu đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Do đó, toàn bộ hệ thống chính trị cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong giai đoạn hiện nay, coi việc quán triệt và thực hiện tốt các chính sách dân tộc của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể các cấp.
- Phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tập trung phát triển mạnh mẽ kinh tế, quan tâm giải quyết đúng mức các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc. Coi phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi là sựu nghiệp chung của cả nước.
- Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và nội lực vươn lên của các địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi; khắc phục tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước.
- Thực hiện chính sách ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải chú ý những đặc điểm tự nhiên, lịch sử, xã hội, phong tục, tập quán của từng vùng, từ dân tộc.
- Đồng bào dân tộc là chủ thể quyết định trong tổ chức thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương mình. Khắc phục tình trạng, bao biện làm thay, áp đặt mà không tôn trọng tính tự chủ, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc. Cần phát huy nâng cao tinh thần tự lực tự cường, ý chí vươn lên của đồng bào các dân tộc.
2. Thực trạng của vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện:
- Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhiều chương trình, chính sách dân tộc được triển khai thực hiện, góp phần quan trọng làm thay đổi đáng kể bộ mặt vùng dân tộc và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm qua các năm. Đồng bào dân tộc thiểu số tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, góp phần đảm đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
- Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan và khách quan, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể so với dân tộc đa số, giữa các vùng. Số hộ dân tộc thiểu số nghèo còn chiếm tỷ lệ cao; cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhất là ở thôn bản còn thiếu thốn; người dân ít có điều kiện tiếp cận thông tin về sản xuất và thị trường, địa bàn cư trú là núi khó khăn nên một số thôn, bản có nguy cơ bị thiên tai đe dọa; trình độ dân trí không đồng đều, truyền thống văn hóa của một số ít dân tộc đang dần bị mai một; việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở một số nơi chưa đạt được như mong muốn.
- Nguyên nhân là do cấp ủy, chính quyền một số cơ sở chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò và yêu cầu của công tác dân tộc trong thời kỳ mới, chưa quan tâm đúng mức đến việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc cũng như tổ chức triển khai thực hiện các chính sách dân tộc. Bên cạnh đó, ý thức chủ động phát huy nội lực, vươn lên thoát nghèo, tiến tới làm giàu của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế; một số ít đồng bào còn có tính trông chờ, ỷ lại vào các chính sách của Nhà nước; năng lực tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của chính quyền cơ sở còn nhiều bất cập, đặc biệt là năng lực làm chủ đầu tư của các xã đặc biệt khó khăn còn yếu nên tiến độ thực hiện các chương trình, tiến độ giải ngân các nguồn vốn giao chậm.
3. Giải pháp:
Từ thực tiễn trên, để làm tốt công tác dân tộc cần thiết phải nắm vững các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc, coi việc thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
 Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Nghiên cứu, tham mưu và đề xuất với cấp trên ban hành các chương trình, chính sách hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện và kiến nghị ban hành, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chính sách dân tộc nhằm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Huy động mọi nguồn lực và tổ chức thực hiện lồng ghép nguồn vốn hỗ trợ của các chương trình, chính sách trên cùng một địa bàn để tập trung ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện.
Nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cần đầu tư tập trung, tránh dàn trải và xác định, lựa chọn hạng mục đầu tư phù hợp với điều kiện thực tế, lợi thế sẵn có của địa phương.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời phát huy tối đa nội lực của nhân dân tham gia thực hiện các chương trình, dự án, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước; tổ chức lồng ghép các nguồn lực, chương trình, dự án trên địa bàn để đạt hiệu quả cao nhất. Ngoài ra, mỗi cán bộ, công chức ở các cơ quan đơn vị từ huyện đến cơ sở cần nắm vững phương châm thực hiện công tác dân tộc đó là gần dân, nghe dân và học dân; đi sâu nghiên cứu tình hình, đặc điểm của vùng dân tộc, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc; động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo, nhanh chóng hội nhập với sự phát triển chung của đất nước
Đổi mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cần chú trọng công tác tuyên truyền trực tiếp (đối thoại trực tiếp) đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đẩy mạnh tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng. Kết hợp nhiều phương pháp, cách thức trong công tác tuyên truyền, cổ động để  nhân dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đều nắm và thực hiện đúng đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước. Phải xây dựng đề cương thật phù hợp với từng nội dung được cấp trên và tập thể chấp thuận; người trực tiếp tuyên truyền phải xem xét, nắm được đối tượng nghe là thành phần nào để tính toán liệu lượng, đồng thời thể hiện rõ phong cách tuyên truyền đi vào thực tế một cách có hiệu quả, khả thi theo từng đối tượng; nội dung tuyên truyền phải ngắn gọn, có chiều sâu, người tiếp thu dễ hiểu, phù hợp với từng vùng, từng khu vực và từng đối tượng. Phù hợp về trình độ, nhận thức và phong tục tập quán của người dân sống trong vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số để thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; nhằm đảm bảo cho người dân hiểu biết và tiếp thu được các chuyên đề… để họ tuyên truyền lại cho gia đình, người thân và trong cộng đồng khu dân cư. Trong hoạt động, thực hiện các Quyết định, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; để đạt được hiệu quả tốt hơn về chuyển tải thông tin, tuyên truyền, trao đổi, và phát huy vai trò người có uy tín trên địa bàn toàn huyện.
Xây dựng Mô hình xã điểm về “Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước”.
Tổ chức hội nghị tuyên truyền, tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Mặt khác, thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, việc quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật ở các cấp, đặc biệt là ở cơ sở. Có cơ chế khuyến khích người dân, các tổ chức đoàn thể nhân dân tham gia công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số...
4. Hiệu quả của sáng kiến:
 Khi tổ chức thành công việc xây dựng mô hình điểm về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào tại một số xã thì việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sẽ được nhân rộng, lan tỏa trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
 Đội ngũ cán bộ nòng cốt thôn, bản tham gia hội nghị là những tuyên truyền viên trực tiếp tuyên truyền, phổ biến về nội dung kiến thức được tiếp thu cho các hộ gia đình. Do đó giúp các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương nắm bắt kịp thời, đầy đủ, nhận thức đúng đắn và triển khai thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy ước, hương ước của địa phương nơi cư trú.
 Thông qua hoạt động tuyên truyền miệng, trao đổi thông tin, nói chuyện chuyên đề giữa đội ngũ cán bộ nòng cốt thôn, bản với các hộ gia đình tại địa phương, sẽ góp phần tăng cường, củng cố hơn nữa tinh thần đoàn kết, gắn bó, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tạo động lực, chí hướng chung của người dân trong việc nỗ lực, phấn đấu và quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng phát triển, giàu đẹp hơn nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc miền núi huyện nhà.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số phải bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Để làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước hết phải tuyên truyền một cách chân thực, chân thành, đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ.
Tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số bằng chính sự gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, việc làm và lối sống của người tuyên truyền. Muốn nói một điều gì để tuyên truyền, thuyết phục người khác, chính người đi tuyên truyền phải tin và gương mẫu.
Chăm lo xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có phẩm chất và năng lực là việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Thường xuyên chú trọng bồi dưỡng, kiểm tra, đôn đốc để thực sự nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở cơ sở.
Luôn luôn học hỏi và sáng tạo trong công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số. Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên để tuyên truyền giáo dục quần chúng.
 Công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động như xây dựng mô hình điểm, tổ chức hội nghị tập huấn, xây dựng chuyên mục phóng sự truyền thông có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành  pháp luật trong đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc tại địa phương.
Thông qua các hoạt động tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số sẽ gắn kết, tăng cường, củng cố thêm khối đại đoàn kết trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời tạo sự đồng thuận, thống nhất ý chí của người dân và cùng phối hợp chặt chẽ, tham gia tích cực với chính quyền địa phương trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững và giữ ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
2. Kiến nghị:
 Trên đây là sáng kiến “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến và vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi” trên địa bàn huyện trong thời gian tới. Bản thân chưa có kinh nghiệm nhiều trong quá trình nghiên cứu và tổ chức thực hiện, kính mong  Hội đồng sáng kiến của huyện Nghĩa Đàn xem xét công nhận sáng kiến của cá nhân và góp ý để bản thân được hoàn thiện hơn./.
 
Thủ tục Hành chính cấp huyện
Thông tin tiếp công dân
ISO
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập10
  • Hôm nay2,064
  • Tháng hiện tại26,548
  • Tổng lượt truy cập6,444,856
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây